Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam

TS. NGUYỄN HỒNG BẮC

1. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài

Hiện nay, ở Việt Nam, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài được quy định trong Luật trọng tài thương mại (TTTM) ngày 17/6/2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011, Luật này thay thế cho Pháp lệnh TTTM năm 2003) và Nghị định của Chính phủ số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTM. Ngoài ra, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài còn được quy định trong điều ước quốc tế đa phương và song phương mà Việt Nam là thành viên. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài được quy định trong Luật TTTM.

So với Pháp lệnh TTTM năm 2003, Luật TTTM có điểm mới quan trọng, khắc phục được tồn tại của Pháp lệnh. Đó là: Mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM (Điều 2); lần đầu tiên có quy định về tranh chấp liên quan đến một bên là người tiêu dùng (Điều 17); khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh TTTM năm 2003 về tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài (Điều 18); không yêu cầu trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam (Điều 20); cho phép các trung tâm trọng tài được xây dựng quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với quy định của Luật (khoản 1 Điều 28); cho phép tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Chương XII); cho phép hội đồng trọng tài được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (các điều 47, 48, 49 và 50); hạn chế nguy cơ phán quyết của trọng tài bị toà án tuyên huỷ (khoản 2 Điều 68); nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng (Điều 13); xác định rõ mối quan hệ giữa trọng tài với toà án trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp (Điều 7); thủ tục toà án xét đơn yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài (Điều 71).

Vấn đề pháp lí liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài đa dạng và phong phú về nội dung. Tuy nhiên, thực tế cho thấy pháp luật Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới thường điều chỉnh một số vấn đề cơ bản sau:

                                                                                 

1.1. Thoả thuận trọng tài

Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên như toà án. Thẩm quyền của trọng tài xuất phát từ thoả thuận trọng tài. Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài đối với tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Thoả thuận trọng tài được thiết lập bởi các bên tranh chấp là cơ sở pháp lí để quyết định thẩm quyền của trọng tài. Khi đề cập thoả thuận trọng tài, cần xem xét một số nội dung sau:

- Hiệu lực của thoả thuận trọng tài

Điều 6 Luật TTTM quy định: Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại toà án thì toà án phải từ chối thụ lí, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Điều 19 Luật TTTM quy định: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.

-     Hình thức của thoả thuận trọng tài

Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thoả thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản:

+ Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

+ Thoả thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

+ Thoả thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

+ Trong giao dịch, các bên dẫn chiếu đến văn bản thể hiện thoả thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ti và tài liệu tương tự khác;

+ Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

- Thời điểm lập thoả thuận trọng tài

Luật TTTM cho phép các bên có thể lập thoả thuận trọng tài vào thời điểm trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (khoản 1 Điều 5). Thoả thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng.

- Thoả thuận trọng tài vô hiệu

Để khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh TTTM năm 2003 về tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài, Điều 18 Luật TTTM giới hạn 6 tình huống theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu:

1. Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật TTTM.

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật TTTM.

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.

6. Thoả thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

1.2. Thẩm quyền trọng tài

Luật TTTM đã khắc phục hạn chế của Pháp lệnh TTTM năm 2003 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại của trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên. Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật TTTM so với Pháp lệnh TTTM, bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật thương mại, Luật đầu tư và các luật chuyên ngành. Đồng thời, phù hợp với thực tiễn sử dụng trọng tài của các quốc gia trên thế giới.

Theo Điều 2 Luật TTTM, trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sau:

+ Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

+ Tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

+ Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.

 Như vậy, ngoài việc có thẩm quyền đối với tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, Luật TTTM còn để mở khả năng trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng trọng tài.

Ngoài ra, Luật TTTM còn quy định điều kiện để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Điều 5:

1. Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.

2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

3. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thoả thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

1.3. Trọng tài viên

Kế thừa Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM vẫn có quy định về tiêu chuẩn tối thiểu đối với trọng tài viên nhằm hình thành ở Việt Nam đội ngũ trọng tài viên nòng cốt có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội. Theo đó, cá nhân có năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học trở lên và đã qua thực tế công tác từ 5 năm trở lên có thể là trọng tài viên (khoản 1 (a), 1(b) Điều 20). Đặc biệt, để tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có thể lựa chọn trọng tài viên phù hợp để giải quyết vụ tranh chấp đòi hỏi chuyên môn sâu, Luật TTTM có quy định mở, đó là trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu của 1 (a), 1(b), cũng có thể được chọn làm trọng tài viên (khoản 3 Điều 20).

 Ngoài ra, Luật cũng quy định một số trường hợp người có đủ tiêu chuẩn quy định nhưng không được làm trọng tài viên: “Người đang là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, công chức thuộc toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án; người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xoá án tích (khoản 2 Điều 20).

Luật TTTM không yêu cầu trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế, trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đã kết nạp 18 chuyên gia nước ngoài vào danh sách trọng tài viên của VIAC. Việc kết nạp trọng tài viên nước ngoài xuất phát từ thực tế giải quyết vụ tranh chấp trong thời gian qua tại VIAC, theo đó số vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài chiếm khoảng trên 70%. Hơn nữa, theo quy định của Pháp lệnh TTTM năm 2003, đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên có thể chọn trọng tài viên trong hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài của Việt Nam hoặc trọng tài viên nước ngoài. Do vậy, để tăng tính hấp dẫn của trọng tài ở VIAC, đáp ứng quyền tự do lựa chọn trọng tài viên của các bên, VIAC quyết định kết nạp trọng tài viên nước ngoài vào danh sách trọng tài viên của mình. Với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết tranh chấp, đáp ứng quyền tự do lựa chọn trọng tài viên của các bên tranh chấp, đầu tháng 5/2012, VIAC đã kết nạp bổ sung 37 trọng tài viên mới vào Danh sách trọng tài viên của VIAC, trong đó có 25 trọng tài viên người Việt Nam và 12 trọng tài viên người nước ngoài. Nâng tổng số trọng tài viên nước ngoài lên 30 người.([1]) Các trọng tài viên được kết nạp đợt I năm 2012 là những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, được lựa chọn dựa trên những tiêu chí khắt khe của VIAC.

1.4. Luật áp dụng trong xét xử trọng tài

Theo Điều 14 Luật TTTM, luật áp dụng trong xét xử trọng tài được chia làm hai trường hợp:

- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài: Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài: Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thoả thuận về luật áp dụng thì hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

Ngoài ra, Luật TTTM còn quy định: Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (khoản 3 Điều 14).

1.5. Tố tụng trọng tài (từ Điều 30 đến  Điều 64 Luật TTTM)

Tố tụng trọng tài được bắt đầu khi trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn gửi đến trung tâm hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn nếu vụ tranh chấp được giải quyết tại trọng tài vụ việc do các bên thành lập và kết thúc khi hội đồng trọng tài ra phán quyết về vụ tranh chấp.

Theo quy định trên, quy trình tố tụng trọng tài được giải quyết ở trung tâm trọng tài sẽ được tiến hành qua các bước sau:

- Bước 1: Nguyên đơn gửi đơn kiện

Nguyên đơn gửi đơn kiện và tài liệu theo quy định của pháp luật đến trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài gửi bản sao đơn kiện của nguyên đơn cho bị đơn. Sau khi nhận được đơn kiện của nguyên đơn, trong thời hạn luật định, bị đơn phải lập bản tự bảo vệ hoặc đơn kiện lại (nếu có) đến trung tâm trọng tài. Đơn kiện lại của bị đơn phải được gửi cho trung tâm trọng tài và phải được nộp cùng thời điểm nộp bản tự bảo vệ. Nguyên đơn phải gửi bản tự bảo vệ đến hội đồng trọng tài trong thời gian luật định. Thủ tục kiện lại được tiến hành như thủ tục giải quyết đơn kiện của nguyên đơn và do hội đồng trọng tài giải quyết cùng một lúc.

- Bước 2: Thành lập hội đồng trọng tài

Điều 39 Luật TTTM quy định: Thành phần hội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều trọng tài viên, theo sự thoả thuận của các bên. Trường hợp các bên không có thoả thuận về số lượng trọng tài viên, thì hội đồng trọng tài sẽ bao gồm ba trọng tài viên.

Nguyên tắc cơ bản của việc hình thành hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài như sau: Nguyên đơn chọn một trọng tài viên hoặc chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho nguyên đơn; bị đơn chọn một trọng tài viên hoặc chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn luật định, các trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định sẽ bầu trọng tài viên khác làm chủ tịch hội đồng trọng tài. Hết thời hạn mà việc bầu không thực hiện được thì chủ tịch trung tâm trọng tài chỉ định chủ tịch hội đồng trọng tài.

- Bước 3: Hội đồng trọng tài nghiên cứu hồ sơ

- Bước 4: Mở phiên họp giải quyết tranh chấp (không công khai)

Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp do quy tắc tố tụng trọng tài của trung tâm trọng tài quy định.

- Bước 5: Ra phán quyết về vụ tranh chấp

Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo đa số. Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Điều 67 Luật TTTM quy định: Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của trọng tài

2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam

Thực tiễn quốc tế cho thấy phương thức giải quyết bằng trọng tài tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế-thương mại có ưu điểm hơn so với phương thức giải quyết bằng toà án, cụ thể: Thứ nhất, thời gian nhanh chóng, thủ tục linh hoạt. Do vậy, doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí; thứ hai, trọng tài xét xử không công khai. Việc lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp sẽ bảo đảm được tính bí mật của điều khoản hợp đồng hoặc giữ được bí mật trong kinh doanh; thứ ba, phán quyết trọng tài được thừa nhận ở tầm quốc tế. Ngoài ra, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, các bên tham gia tranh chấp không có quyền kháng cáo đối với phán quyết của trọng tài (tuy nhiên, toà án vẫn có quyền hạn nhất định đối với việc ra quyết định huỷ phán quyết trọng tài hoặc tuyên bố phán quyết của trọng tài vô hiệu); thứ tư, tôn trọng tối đa ý chí tự do thoả thuận của các bên (được chọn trọng tài viên để giải quyết vụ tranh chấp; được chọn địa điểm giải quyết vụ tranh chấp; thời gian giải quyết vụ tranh chấp; được lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp (đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài); ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài (đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài); thứ năm, nội dung tranh chấp được giữ bí mật, phán quyết của trọng tài không được công bố rộng rãi. Điều này rất có lợi khi doanh nghiệp muốn giữ uy tín của mình với bạn hàng khác.

Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam cho thấy tranh chấp thương mại được xét xử ở trọng tài không nhiều, trong khi toà án kinh tế thì quá tải. Theo báo cáo của Trung tâm TTTM Thành phố Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm 2004, Trung tâm chưa giải quyết vụ việc nào. Trong năm 2003, Trung tâm trọng tài kinh tế Hà Nội giải quyết được 2 vụ.([2]) Theo báo cáo tổng kết của VIAC, số lượng vụ tranh chấp và loại hình tranh chấp được giải quyết tại VIAC từ năm 2001 - 2010 như sau:([3])

                 Năm

Số lượng

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng số

17

19

16

32

27

36

30

58

48

63

Tranh chấp trong nước

0

3

2

8

2

7

9

23

22

37

Tranh chấp có yếu tố nước ngoài

17

16

14

24

25

29

21

35

26

26

 

 


 


Theo bảng thống kê trên, có thể nói hoạt động TTTM hầu như chỉ tập trung tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. Như vậy, trong những năm 2001 - 2010, VIAC đã giải quyết vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài chiếm 71%, tranh chấp trong nước chiếm 29%. Trong đó, tranh chấp hợp đồng mua bán chiếm 66%, gia công 6%, dịch vụ 3%, đại lí 2%, đầu tư 4% và tranh chấp khác 14%.([4])

Trong các tranh chấp đó, hầu hết là tranh chấp có giá trị không lớn và phần lớn nguyên đơn là doanh nghiệp Việt Nam (chiếm tới 82%). Phân tích của VIAC cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam đứng đơn kiện là do còn “non” khi tiến hành kí kết hợp đồng. Trình độ hiểu biết pháp luật trong nước và quốc tế của doanh nghiệp còn hạn chế. Hầu hết tranh chấp phát sinh do không mở L/C đúng hạn, phạt hợp đồng do không giao hàng, giao hàng chất lượng kém hoặc giao hàng sai xuất xứ, ngoài ra là lỗi liên quan tới kĩ thuật nghiệp vụ ngoại thương…([5])

Thực tế trên có thể cho thấy rằng có quá ít tranh chấp thương mại được giải quyết tại trọng tài. Lí giải cho việc doanh nghiệp không “mặn mà” với trung tâm trọng tài có một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, sự phối hợp chưa chặt chẽ, thường xuyên và kịp thời giữa toà án và trọng tài trong việc thi hành phán quyết trọng tài. Theo quy định của Luật TTTM, phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Toà án và cơ quan thi hành án là cơ quan nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động trọng tài nhưng thực tế sự phối hợp giữa các cơ quan này với trọng tài còn lỏng lẻo, nhìn chung chưa hiệu quả. Thực tiễn trọng tài cho thấy có  ít phán quyết của trọng tài Việt Nam được thi hành.

Thứ hai, đây là lĩnh vực còn khá mới mẻ, Việt Nam mới bước vào nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan trọng cũng như vai trò của TTTM. Đây là tổ chức phi chính phủ, trong khi đó, ở Việt Nam, doanh nghiệp vẫn chưa tin tưởng lắm vào thiết chế xã hội ngoài nhà nước.

Thứ ba, ngoại trừ VIAC được tổ chức khá chặt chẽ và hoạt động tương đối bài bản, các trung tâm trọng tài khác hoạt động manh mún, yếu về nhân sự, tổ chức và cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay.

2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của trọng tài

Để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài ở Việt Nam, cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về cơ sở pháp lí, cần có quy định rõ, chặt chẽ về sự phối hợp giữa toà án, cơ quan thi hành án và trọng tài trong thi hành phán quyết của trọng tài.

Thứ hai, trong hoạt động xét xử của trọng tài thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Nếu không có con người thì pháp luật chẳng qua là những từ ngữ nằm trên giấy, không thể biến ý chí của giai cấp thống trị thành hành động thực tế của mọi ngư­ời. Do vậy, về nhân lực, bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật cũng như biện pháp hỗ trợ của Nhà nước, các trung tâm trọng tài cần chủ động, tích cực hơn trong việc mở rộng danh sách trọng tài viên, đặc biệt chú trọng tới chuyên gia có uy tín và trình độ chuyên môn cao; bồi dưỡng nâng cao trình độ của trọng tài viên nhằm nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp của trung tâm trọng tài.

Thứ ba, về sự hợp tác trong và ngoài nước. Mỗi trung tâm cần tăng cường hợp tác với các tổ chức trọng tài trong và ngoài nước nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như nhận được sự hỗ trợ cần thiết; thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giới thiệu về tổ chức và hoạt động của mình…/.



([1]).Xem:http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/arbitration.aspx?Is=True

([2]).Xem: Nguyễn Thị Vân, “Tình hình hoạt động TTTM ở Việt Nam hơn một năm sau khi có Pháp lệnh trọng tài thương mại, nguồn: http://vietnamese-law-consultancy.com/vietnamese/content/browse.php?action=shownews&category=&id=50&topicid=454, ngày 9/10/2005.

([3]).Xem: VIAC, Loại hình tranh chấp được giải quyết tại VIAC, nguồn: http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/ thong-ke-92/357/So-vu-tranh-chap-tai-VIAC-trong-17-nam-tu.aspx

([4]).Xem: VIAC, Loại hình tranh chấp được giải quyết tại VIAC, nguồn: http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/ thong-ke-92/357/So-vu-tranh-chap-tai-VIAC-trong-17-nam-tu.aspx

([5]).Xem: Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam - Báo đầu tư, "Trọng tài thương mại: Vì sao doanh nghiệp chưa mặn mà?", kỉ yếu Hội thảo “Doanh nghiệp hội nhập: Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp thương mại và đầu tư”, Hà Nội,  ngày 17/4/2008.

NGUỒN: TẠP CHÍ LUẬT HỌC



  Tìm kiếm
  VIdeo
Đăng ký tư vấn miễn phí

Họ tên
Email
Tiêu đề
File đính kèm
Nội dung
Đối tác
Khách hàng
Công ty Huyndai Vinashin (Khánh Hòa) Công ty Yến Sào Khánh Hòa Công ty TNHH Sản Xuất Ô tô JRD Việt Nam (Phú Yên) Công ty TNHH Long Hiệp (Khánh Hòa) Công ty Marine Farms Vietnam (Khánh Hòa) Chi nhánh Ngân hàng BIDV Khánh Hòa Chi nhánh Ngân hàng Vietcombank Ba Đình (Hà Nội) Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Vinaconex (Vinaconex UPGC) Công ty Cổ phần Khử trùng Việt Nam (TP. HCM) Công ty Cổ phần Xây dựng Hiệp Hòa (Phú Yên) Công ty Cổ phần Vinacafe Sơn Thành (Phú Yên)
Thăm gò ý kiến
1. Anh/chị có thường xuyên sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư?



2. Khi có nhu cầu về dịch vụ pháp lý anh/chị thường tìm đến luật sư qua thông tin nguồn nào?




3. Cảm nhận của anh/chị về dịch vụ pháp lý của chúng tôi?



Gửi bình chọn 
 
Lượt truy cập
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ NGUYỄN ĐÌNH THƠ
Giấy phép số: 37.01.0002/TP/ĐKHD, Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 12/9/2002
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Đình Thơ
Địa chỉ:119B Ngô Gia Tự - Nha Trang - Khánh Hòa
Điện thoại: 058. 3511090  /  Fax: 058. 3510957  /  Email: nguyenlawyer82@gmail.com